Tìm kiếm

Hỗ trợ trực tuyến

Slideshow Trang chủ

Slideshow Trang chủ

Thống kê

MẸ THÁNH TERESA CALCUTTA

Linh đạo xã hội và tôn giáo của Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta

Mẹ Têrêsa sống đời nữ tu 19 năm, bắt đầu như một tập sinh, rồi sơ sau đó. Trong khi dạy ở trường Thánh Mẫu Maria, Mẹ có dịp cảm nhận thấm thía thực tại của sự túng quẫn. Năm 1943 xảy ra nạn đói lớn làm chết ít nhất hai triệu người; và những học sinh nghèo đến trường với dạ dầy trống rỗng. Bằng mọi cách, các sơ cố giúp các em có bữa ăn trưa. Sơ Têrêsa cũng chứng kiến cảnh khốn cùng của học sinh và dân chúng trong thời kỳ hạn hán. Và ý muốn giúp đỡ người nghèo bén rễ sâu trong tâm hồn Mẹ.

 

Linh đạo xã hội và tôn giáo của Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta

      

 

Tác giả: Tiến sỹ Joseph Ladislaus

Chuyển ngữ: Hoành Sơn, S.J.

 

Lời dịch giả

Nguyên tác bài này , Social and religious spirituality of St Mother Teresa đăng trên tạp chí  Vidyajyoti Journal  (Jyoti=Ánh sáng (của) Vidya (Minh  trí)), số ra tháng tám 2018, của Dòng Tên Ấn Độ.[i][1]

Trước đây, tôi đã viết về hai nhân vật  nổi tiếng quốc tế của Ấn Độ là Gandhi và Tagore. Đáng lẽ tôi phải viết về nhân vật thứ ba, cũng xuất phát từ Ấn, mà cả thế giới hôm nay trìu mến và kính ngưỡng dưới cái tên là Mẹ Têrêsa Calcutta, người đã từng nhận nhiều giải thưởng từ chính phủ Ấn Độ, từ các nước Đông Nam Á, và mới đây giải Nobel Hòa bình. Vâng, đáng lẽ tôi phải viết về Mẹ Têrêsa đã được phong thánh, và trong lễ phonng thánh ấy tại Rôma, rất nhiều bậc vị vọng của Ấn Độ, kể cả thủ hiến mấy tiểu bang, cũng bay sang dự lễ, dù họ khác tôn giáo. Vâng, đáng lẽ tôi phải viết về nhân vật, mà người Ấn nói chung, khi nhắc đến đều tỏ lòng kính yêu ấy, nhưng vì gặp trong tạp chí Vidyajyoti  Journal of Theological reflection bài viết quá đầy đủ của tiến sỹ J. Ladislaus, nên tôi chỉ làm công việc khiêm tốn là chuyển ngữ để độc già Việt nam chúng ta có dịp tìm hiểu sâu xa về con người, tâm hồn và hành động của vị thánh nói trên. Sau khi đọc xong bản văn, sẽ thấy Mẹ Têrêsa quả là hiện tượng của thời đại về lòng thương người bao la, và về những công trình vĩ đại Mẹ làm nên để ”phục vụ những ai nghèo nhất giữa các người nghèo”.

Vì nguyên tác có quá nhiều chú thích (note) nói lên nguồn gốc của mỗi thông tin, nên tôi xin phép bỏ qua. Thay vào đó, tôi đưa ra những chú thích của riêng tôi khi gặp những gì khó hiểu về phong tục, địa lý… Ấn độ…  đối với độc giả Việt.

Bản văn

Mẹ Têrêsa Calcutta được giải Nobel Hòa bình vào tháng 10 năm 1979. Trong cuộc nghênh đón Mẹ, ngài Jyoti Basu, hồi ấy là Thủ hiến tiểu bang Bengali[2], nói với vị mới đoạt giải Nobel  rằng :”Từ lâu Mẹ đã là Mẹ của Bengali, còn nay Mẹ thành Mẹ của thế giới rồi”. Trong dịp phong hiển thánh cho Mẹ vào ngày 4-9-2016, Đức Giáo chủ Phanxicô nhận xét :”Sự hiền từ và lòng thương xót là những phẩm chất nổi bật của đức Ái” nó khiến “Mẹ Têrêsa ưu tiên chọn giúp đỡ những ai nghèo nhất giữa các người nghèo”.

Năm 1985, vào dịp khánh hạ năm 40 Đại hội đồng Liên hiệp quốc ở Nữu Ước, ngài Tổng thư ký Javier Perez de Cuillar khi giới thiệu Mẹ đã nói: ”Thiết nghĩ việc tốt nhất tôi có thể làm là cảm tạ Mẹ, và tuyên bố : Hơn cả tôi, hơn hết mọi người trong chúng ta, Mẹ là Liên hiệp quốc, là Hòa bình của thế giới”.

Ngày nay thì Mẹ Têrêsa đã được tưởng nhớ tới trong tâm tình tri ân và kính ngưỡng trên khắp hoàn cầu rồi.

Dù Mẹ Têrêsa sống vào thế kỷ trước, nhưng Mẹ đã thành người của mọi thế kỷ. Đức tin sâu thẳm của Mẹ biểu hiện nơi việc làm, đức tin ấy không thể chết đi với Mẹ, mà mãi mãi hiện thể thành hành động hôm nay, ngày càng mãnh liệt hơn. Rất nhiều người cố gắng tìm hiểu về trực giác và linh đạo xã hội-tôn giáo của Mẹ. Sau đây cũng là cố gắng của riêng tôi, hòng ghi nhớ đời sống và sự nghiệp của Mẹ, qua đó truyền hứng cho niềm tin và lòng xót thương của quý vị độc giả.

Bài này gồm bốn phần : 1) “Làm tông đồ bằng đời sống” nói lên nguồn gốc việc Mẹ hiến thân phục vụ người nghèo nhất giữa các người nghèo, cũng như tình  yêu sâu xa của Mẹ đối với Thiên Chúa; 2) “Chiêm niệm trong hành động” diễn tả đời sống và công việc phục vụ của các Thừa sai Bác ái, thân mình nối dài của Mẹ Têrêsa; 3) “Những thâm  tín” đưa ra ánh sáng nhữnng thâm  tín của Mẹ được thể hiện bắng hành động; 4) “Thành quả cho hôm nay” nói lên ý nghĩa của sứ điệp Mẹ Têrêsa cho chúng ta hôm nay.

1- Làm tông đồ bằng hành động

Một nụ hồng nhỏ- Mẹ Têrêsa sinh  ngày 26-8-1910 với tên gọi Anjeze (Agnès trong tiếng Pháp) Gonxhe (Gonxhe là nụ hồng trong tiếng Albania) Bojaxhiu trong một gia đình người Albania. Sinh  quán của Mẹ : Skopje, nay là thủ đô Nước Cộng hòa Macedonia, còn khi ấy chỉ là một phần của Kosovo Vilayet trong Đế quốc Ottoman. Cô bé là út trong ba đứa con của Nicolle và Dranafile Bojaxhiu. Năm 1919, khi Agnès mới lên tám, thì ba chợt bệnh và qua đời. Vững vàng lên từ cái chết của bố, Agnès rất sán mẹ.

Nhờ mẹ gợi hứng- Dranawas là một phụ nữ đạo hạnh và đầy lòng thương người. Bà chuyển sang cho con gái Agnès những tâm tình bác ái thâm sâu. Quả thế, Agnès học từ mẹ lòng .xót xa trước những túng thiếu của người nghèo, người cùng khổ. Bà Dranawas dạy con cái biết thức tỉnh trước nhu cầu của láng giềng và tìm cách giúp đỡ họ. Mỗi tuần một lần, lắm khi có bé Agnès đi với, bà đến thăm một phụ nữ lớn tuổi hơn bị con trai bỏ rơi. Bà mang thức ăn tới và giúp dọn dẹp nhà cửa. Hai ngày một lần, bà tắm rửa cho một phụ nữ say rượu, mình đầy lở chốc, và chữa trị cho. Agnès thườnng giúp mẹ trong những công việc như thế. Bà Dranawas cũng chăm sóc một bà góa bệnh tật có sáu đứa con. Khi nào bà ngăn trở, thì sai Agnès đi thăm. Đến khi bà góa chết, thì sáu đứa con của bà được mang về nhà Bojaxhiu, và chúng  trở nên thành viên của gia đình. Dẫu chẳng giàu có gì cho cam, bà Dranawas Bojaxhiu vẫn mở rộng vòng tay đón tiếp những ai túng đói trong vùng tới ăn uống trong nhà mình. Bà khuyên Agnès như sau :”Con ạ, đừng bao giò nuốt một miếng mà không chia sẻ nó với người khác”. Khi bé Agnès hỏi những người đến ăn là ai, thì mẹ luôn luôn trả lời :” Một số là bà con, nhưng hết thảy đều là đồng bào của chúng ta”. Cứ thế, với Agnès, bà mẹ đã thành tấm gương sống về sự quan tâm đến người nghèo khổ, trần trụi!

Nguồn gốc ơn gọi tu dòng- Từ đức tin Kytô-giáo của mình, bà Dranawas rút ra một sức mạnh lớn cho bà và gia đình bà. Bà đưa cả ba con đi nhà thờ cầu nguyện và dự thánh lễ. Rồi mỗi tối, cả gia đình họp lại ở phòng chung để lần hạt. Bà rất sùng đạo, chuyển sang cho các con đức tin bà đã tiếp nhận từ cha mẹ mình. Ngay từ tuổi thơ, Agnès tới nhà thờ đều đặn, và coi đó  là việc phải làm hơn hết những gì khác.

Linh mục Jambrenkovich, cha sở họ đạo Thành Tâm, nói cho giới trẻ biết chuyện các tu sỹ Dòng Tên của nước Yougoslavie (Nam Tư) ra đi truyền giáo ở vùng Bengali (bên Ấn) vào năm 1924. Lòng hăng say truyền giáo của những vị ấy được kể lại cho các thành viên hội đoàn Sodality (Đoàn kết), và chuyện ấy tác động mạnh vào tâm tư của bọn trẻ, nhất là của Agnès. Tốt hơn, hãy nghe chính lời thú nhận của cô :”…Ngày kia, một nhà truyền giáo Dòng Tên bên Ấn tới thuyết giảng ở nhà thờ chúng tôi. Cha nói về công việc của cha làm bên Ấn, và lời của cha tác động sâu xa vô tâm hồn tôi. Tôi thưa truyện với vị linh mục này về ý muốn của tôi, và ngài khuyên tôi cầu nguyện để biết thánh ý Chúa”.

Agnès quyết chí trở thành nữ tu, và bỏ nhà năm 1928 lúc 18 tuổi, tới dòng các sơ Loretô thuộc đan viện Loretô bên Rathfarmam, Ái nhĩ lan, để học Anh văn, với mục đích đi truyền giáo : tiếng Anh là ngôn ngữ các sơ Loretô sử dụng khi dạy các trẻ em bên Ấn. Agnès sẽ không còn gặp lại mẹ bao giờ nữa.

Đời sống nữ tu ở Bengali-  Một năm sau, Agnès, nay là Maria Têrêsa (tên dòng) sang Darjeeling bên Ấn làm tập sinh, và tháng 5-1931 thì khấn nguyện lần đầu. Sơ được gửi đến dạy ở trường nữ trung học Thánh Mẫu Maria do các sơ Loretô điều hành, và sơ hiến thân dạy các em thuộc gia đình nghèo nhất của Bengali. Sơ Têrêsa học nói thông thạo tiếng Bengali và Hindi[3] trong khi dạy môn sử địa. Sơ cũng có ý giúp các em thoát nghèo nhờ học vấn.

Ngày 4-5-1937, sơ khấn nguyện trọn đời khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Kể từ đấy, theo thói quen dòng Loretô, như các sơ sau vĩnh nguyện (khấn trọn đời), sơ được gọi là Mẹ : Mẹ Têrêsa. Mẹ Têrêsa tiếp tục dạy ở trường Thánh Mẫu Maria, và đến 1944 thì trở thành hiệu trưởng. Bằng sự dịu hiền, quảng đại và tận tâm giáo dục nữ sinh, Mẹ hướng dẫn các em tới việc tôn sùng Chúa Kytô :”Xin cho con sức mạnh để thành ánh sáng cho các em, để cuối cùng có thể dẫn các em tới Chúa”.

Đối mặt với túng nghèo và khổ cực- Mẹ Têrêsa sống đời nữ tu 19 năm, bắt đầu như một tập sinh, rồi sơ sau đó. Trong khi dạy ở trường Thánh Mẫu Maria, Mẹ có dịp cảm nhận thấm thía thực tại của sự túng quẫn. Năm 1943 xảy ra nạn đói lớn làm chết ít nhất hai triệu người; và những học sinh nghèo đến trường với dạ dầy trống rỗng. Bằng mọi cách, các sơ cố giúp các em có bữa ăn trưa. Sơ Têrêsa cũng chứng kiến cảnh khốn cùng của học sinh và dân chúng trong thời kỳ hạn hán. Và ý muốn giúp đỡ người nghèo bén rễ sâu trong tâm hồn Mẹ.

Năm 1946, cuộc xung đột Hồi giáo-Ấn giáo gây thảm họa lớn, và Calcutta rất khốn đốn do sự kiện dân cư  thành phố gần như chia đôi giữa hai cộng đồng Ấn và Hồi đối đầu nhau. Các cuộc biểu tình và xung đột xảy ra khiến mấy trăm người bị giết. Là cô giáo đứng đầu nhà trường, sơ Têrêsa phải ra ngoài mua nhu yếu phẩm cho các em, nhờ đó tận mắt thấy xung đột và nỗi khổ của giống người. Và sơ nhận thức ra việc tông đồ của mình không thể đóng kín trong nề nếp của cơ sở giáo dục dành riêng cho giới trung lưu là chính, mà phải là giữa những người nghèo nhất trong đám người nghèo tại các khu ổ chuột.

Tiếng gọi lập dòng- Ngày 10-9-1946, Mẹ Têrêsa cảm nghiệm một tiếng gọi thứ hai nó thay đổi hẳn cuộc đời của Mẹ. Đang khi Mẹ đi xe lửa từ Calcutta đến chân núi Hy mã lạp sơn để tĩnh tâm, thì Đức Kytô nói với Mẹ hãy bỏ việc dạy học và tới làm việc ở những khu ổ chuột của Calcutta, hầu giúp đỡ những người nghèo nhất, ốm yếu nhất. Sau này, Mẹ diễn tả tiếng gọi ấy như “tiếng gọi bên trong tiếng gọi”. Và Mẹ nhớ lại :”Tôi phải bỏ nhà dòng đến chung sống với người nghèo khổ để giúp đỡ họ. Đó là mệnh lệnh, mà không tuân thủ cũng là bỏ đức tin luôn”.

Vì đã khấn nguyện vâng lời, nên Mẹ không thể bỏ dòng mà không có phép chính thức. Sau khoảng một năm rưỡi dây dưa, cuối cùng vào tháng giêng 1948, Mẹ được Đức Tổng giám mục Calcutta là F. Ferrier dòng Tên chấp nhận cho Mẹ đi theo ơn gọi mới này. Thế là tháng tám năm ấy, Mẹ khoác lên mình chiếc áo trắng viền xanh mà Mẹ sẽ công khai mặc cho đến hết đời; và chỉ với 5 ru-py[4] trong túi, Mẹ rời bỏ tu viện Loretô, lần đầu phiêu lưu vào những khu ổ chuột của Calcutta với ý chí giúp đỡ “những kẻ không được ai yêu thương và lo lắng cho”.

Mẹ ghi lại trrong nhật ký riêng, rằng trong năm thứ nhất, Mẹ ngập đầu với biết bao khó khăn : không một lợi tức, Mẹ phải đi xin lương thực và những vật dụng cần thiết. Trong mấy tháng đầu, Mẹ kinh nghiệm sự nghi nan, nỗi cô độc, và cám dỗ quay trở về với những tiện nghi của đời sống tu viện. Cuối cùng, Mẹ quyết định dứt khoát :”Lạy Chúa, vì lòng mến Chúa, con muốn ở lại và làm bất cứ gì Chúa muốn đối với con. Con quyết không để rơi giọt nước mắt nào cả”.

Những khởi đầu- Năm 1952, Mẹ Têrêsa mở Nhà Hấp hối đầu tiên trên khoảnh đất thành phố nhường cho. Với sự trợ giúp của mấy viên chức Ấn, Mẹ biến một ngôi đền Ấn giáo bỏ hoang ở Kalighat thành nhà dành cho người hấp hối, nơi nương trú miễn phí cho kẻ túng nghèo. Mẹ đặt tên cho ngôi nhà ấy là “Trái tim vô nhiễm”. Những ai được nhận vô sẽ được chăm sóc y tế và có cơ hội ra đi trong bình an, xứng với nhân phẩm và theo nghi thức tôn giáo của mình : kinh Quram được đọc cho người Hồi, nước sông Hằng mang tới người Ấn, phép Xức dầu làm cho người Công giáo. “Một cái chết đẹp” như Mẹ nói, “cho những kẻ sống thì không hơn con vật, nhưng chết lại giống như thiên thần, được yêu thương và quan tâm đến”.

Không lâu sau đó, Mẹ mở một nhà cho người bệnh phong, mà Mẹ đặt tên là “Thị trấn Bình an”. Các sơ Thừa sai Bác ái cũng lập nhiều bệnh viện phong trong thành phố để nuôi ăn và chăm sóc y tế cho người nội trú. Năm 1955, Mẹ Têrêsa mở nhà “Vô nhiễm” làm chốn ăn ở cho trẻ mồ côi và vô gia cư.

Sự ra đi của một con người vĩ đại- Ngày 5-9-1997, Mẹ Têrêsa từ trần. Tám ngày sau, 13-9, chính phủ Ấn Độ tổ chức quốc táng long trọng, có chức sắc từ khắp nơi trên thế giới đến tham dự. Di thể của Mẹ được an nghỉ trong Nhà mẹ Dòng Thừa sai Bác ái ở Calcutta. Khi Mẹ qua đời, những lời chia buồn và ca ngợi đươc gửi đến từ khắp bốn phương :”Thế giới đã mất đi một trong những người khổng lồ của thời đại này”, tổng thống Clinton của Hoa kỳ nói, “con người ấy đã mang an ủi tới cho người nghèo, người khổ đau và hấp hối, đồng thời trở nên cho hết thảy chúng ta một gợi hứng và thách đố”.

Vào lúc Mẹ Têrêsa ly trần năm 1997, các Thừa sai Bác ái, gồm các sơ, linh mục và tu huynh, đếm được 4.232 người với 600 cơ sở ở 123 nước. Ngoài ra, còn tới hằng ngàn giáo dân tình nguyện trên khắp hoàn cầu. Với tất cả con số ấy, Mẹ Têrêsa nói :”Chúng tôi biết quá rõ : Cái chúng tôi làm được chỉ là giọt nước giữa đại dương. Dĩ nhiên nếu không có giọt nước ấy, hẳn đại dương cũng thiếu một cái gì”.

2- Chiêm niệm trong hành động

Sứ mệnh làm lan tỏa tình yêu- Mẹ Têrêsa chuyển tếng gọi ngày 10-9-1946 thành hành động cụ thể là cứu giúp kẻ túng nghèo trong thành phố. Mẹ bắt đầu mở một trường học giữa trời và lập Nhà hấp hối tại một căn phố hoang tàn mà Mẹ thuyết phục được nhà chức trách thành phố nhường cho để sử dụng vào công việc nói trên. Hồi đầu, vào năm 1949, một nhóm phụ nữ trẻ đến hỗ trợ Mẹ, để rồi với những cô gái này, Mẹ khởi sự một tu hội mới : Các Thừa sai Bác ái với lời khấn nguyện thứ tư là “Toàn tâm toàn ý cho việc phục vụ không công những người nghèo nhất giữa người nghèo”. Đến tháng 10-1950, tu hội mới nói trên được công nhận chính thức ; vào lúc ấy chỉ có một nhúm thành viên, mà hầu hết là cựu giáo chức và nữ sinh trường Thánh Mẫu. Sứ mệnh của dòng, theo đúng lời Mẹ, là chăm sóc “những kẻ đói khát, trần trụi, tật nguyền, mù lòa, vô gia cư, phong hủi, và hết thảy những người bị bỏ mặc, không xót thương, không được đếm xỉa tới, bị coi là gánh nặng hay bị gạt ra ngoài lề xã hội. Theo cách hiểu của Mẹ Têrêsa, “mỗi người như thế là Chúa Giêsu cải trang”.

Các Thừa sai Bác ái ngay từ đầu đã có sức lôi cuốn người ta đến gia nhập; cùng lúc các tặng phẩm quảng đại cũng được gửi đến. Nhờ đó, tới năm 1960, họ mở được những trung tâm cứu tế, trại mồ côi, trại phong cùi khắp trên nước Ấn. Kế đó, tu hội của Mẹ cũng bành  trướng khắp hoàn cầu. Nhà đầu tiên bên ngoài Ấn được mở ở Venezuela năm 1965 với 6 sơ. Các nhà tiếp theo là ở Rôma, Tanzania, nước Áo. Trong năm 1970, có thêm nhiều nhà và cơ sở tại mười mấy nước châu Á, châu Phi, châu Âu và Hoa kỳ.

Mẹ Têrêsa thiết lập tu hội Tu huynh Thừa sai Bác ái năm 1963, và ngành chiêm niệm nữ tu năm 1976. Còn ngành giáo dân Công giáo và không-Công giáo được tập hợp trong nhóm “Cộng sự viên của Mẹ Têrêsa”, nhóm “Cộng sự viên vì người bệnh tật và đau khổ”, nhóm “Thừa sai Bác ái giáo dân”. Để đáp lại lời thỉnh cầu của nhiều linh mục, Mẹ Têrêsa còn lập “Phong trào Thánh Thể Chúa Kytô”dành cho linh mục; để rồi vào năm 1984, cùng với cha Giuse Langford, Mẹ thành lập “Các cha Thừa sai Bác ái” để liên kết những mục tiêu ơn gọi Thừa sai Bác ái vói những gì mà thừa tác vụ linh mục có thể cung cấp. Trong ý nghĩ của Mẹ Têrêsa, thì “các sơ và tu huynh chiêm niệm làm nên đôi chân của Chúa Giêsu trên bước đường tìm kiếm các linh hồn. Vâng, họ ra ngoài để cứu những linh hồn đang cần Chúa”.

Tình yêu Thiên Chúa, tình yêu Chúa Giêsu- Lần kia, cùng với mấy sơ, Mẹ đang tắm rửa và đút ăn cho một người cùi dơ bẩn, trông gớm ghiếc, trên một đường phố Calcutta. Một kẻ thấy thế đã nhận định :”Có trả tôi một triệu đô la tôi cũng chẳng chạm tới một người cùi”. Nghe thế, Mẹ Têrêsa đáp trả một cách hóm hỉnh :”Tôi cũng vậy nếu đây là vấn đề tiền . Vâng, dù cho tôi hai triệu đô, tôi cũng chẳng làm việc này đâu. Nhưng tôi lại vui sướng mà làm vì tình yêu Thiên Chúa”. Theo Mẹ, thì “Ơn gọi các Thừa sai Bác ái là yêu mến Chúa Giêsu”. Quả thế, các Thừa sai Bác ái, dù là sơ, tu huynh, linh mục hay giáo dân, hết thảy đều mang sứ mệnh y hệt của chính Chúa, đó là “đưa Tin mừng đến cho kẻ nghèo, tự do cho kẻ bị giam, ánh sáng cho kẻ mù, giải phóng cho kẻ bị áp bức, công bố Năm hồng ân của Thiên Chúa (Luca 4.18-19)”.

Yêu thương bằng hành động- Mẹ Têrêsa nhắc đi nhắc lại :”Tình yêu được minh chứng bằng hành động; hành động càng gây phiền não cho ta, thì chứng tá tình yêu càng lớn rõ hơn”. Năm 1969 Mẹ đến viếng thăm Trung quốc, ở đó Mẹ gặp gỡ một số lãnh đạo cao cấp đảng Cộng sản. Có mấy vị hỏi :”Này Mẹ Têrêsa, người Cộng sản là chi đối với Mẹ?” Mẹ trả lời ngay,