Chia Sẻ

Suy niệm Lời Chúa hằng ngày - Tuần 34 Thường Niên_Lm Giuse Minh

THỨ HAI TUẦN XXXIV THƯỜNG NIÊN

Lc 21,1-4

Cho Đi Tất Cả

 

  1. Bối cảnh:

Gương dâng cúng của một bà góa

-   “Bà góa”: xã hội Do Thái không có những qui định bảo vệ quyền lợi các góa phụ, cho nên họ rất thiệt thòi: tài sản của chồng họ không được hưởng (con cái họ hưởng). Vì thế trong Thánh Kinh, bà góa, trẻ mồ côi và ngoại kiều là những người xấu số nhất và nghèo nhất (x. Dnl 24,17-22).

-   Bà góa nghèo này đã dâng vào hòm tiền đền thờ “hai đồng tiền kẽm”: đồng tiền Kodrantes tức là một loại tiền nhỏ nhất trong các loại tiền thời đó.

-   Tuy số tiền là ít nhưng được Chúa Giêsu đánh giá cao hơn số tiền của những người khác, vì những người kia lấy của dư thừa mà dâng cho Thiên Chúa, còn bà này túng thiếu mà đã dâng tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.

  1. Vào thời xưa cũng như thời nay, có những giai tầng bị loại ra bên lề. Trong số những người nghèo bị gạt ra bên lề xã hội, có các bà góa, nhất là trong hệ thống tổ chức xã hội xưa kia tại Israel. Phụ nữ khi kết hôn phải cắt đứt dây liên hệ với gia đình ruột thịt, và từ lúc chồng chết mọi tài sản thuộc về con cái, và vì thế, mọi tiếp tế vật chất từ nhà chồng bị đình chỉ.

Bà góa trong Tin Mừng hôm nay có thể nói là một người nghèo tuyệt đối. Qua nghĩa cử đơn sơ của bà, Chúa Giêsu đã khám phá ra sự quảng đại cao cả và lòng cậy trông phó thác tuyệt đối của bà vào Thiên Chúa. Mặc dù chỉ đóng góp hai đồng tiền nhỏ có giá trị ¼ xu, nhưng bà đã cho đi tất cả những gì mình có để nuôi sống. Vì thế bà xứng đáng được Chúa Giêsu khen ngợi. Tuy nhiên sự kiện và lời khen ngợi này có thể nêu lên hai vấn nạn: Thứ nhất, liệu chúng ta có phải nghèo khó về vật chất để được thuộc về Nước Thiên Chúa chăng? Thứ hai, liệu người nghèo phải cho đi tất cả, kể cả nhu yếu phẩm nếu họ muốn được khen ngợi chăng?

Đã hẳn trong Tin Mừng, người nghèo được chúc phúc, trong khi theo cách diễn tả của Chúa Giêsu người giàu có khó vào được Nước Trời. Thật ra, người nghèo được gọi là có phúc, không phải vì họ nghèo, cũng như Tin Mừng không bao giờ đề cao sự nghèo khổ, vì sự nghèo túng tự nó không làm cho ai nên thánh, có chăng chỉ những người nghèo biết chấp nhận thân phận của mình để chờ đợi tất cả từ người khác và cậy trông phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa. Nói khác đi, cái nghèo vật chất không phải tự nó biến sự túng thiếu thành nguồn ơn phúc, nhưng chính tinh thần nghèo khó, đặt trọn niềm tín thác vào Thiên Chúa mới làm cho những người nghèo trở nên giàu tình người và đậm đà tình Chúa.

Bà góa nghèo trong Tin Mừng hôm nay chỉ có hai đồng tiền nhỏ để sinh sống, nhưng bà đã công đức vào đền thờ. Bà cho đi không phải của dư thừa mà là chính cái mình đang cần thiết. Sự cho đi như thế thật rất quí, vì cũng chẳng khác gì là sự cho đi chính bản thân mình. Cho nên Chúa Giêsu đã khen lòng quảng đại của bà. Lòng quảng đại hệ tại ở chỗ cho mà không tính toán.

III. Vào mùa đông, tại một đất nước Châu Âu, một em bé 13 tuổi nghe nhà trường thông báo đợt lạc quyên tiền bạc và phẩm vật làm quà giáng sinh cho các trẻ em nghèo trong vùng. Em đã dành dụm mọi chi tiêu ít ỏi của em trong suốt 3 tháng. Khi đã được 15 đồng, em quyết định đón xe đò từ làng lên phố. Bất ngờ, một trận bão tuyết ập đến dữ dội làm tắt nghẽn mọi hoạt động giao thông. Không bỏ cuộc, em xuống xe, co ro lội bộ băng qua cánh đồng đầy ngập tuyết trắng xóa và gió bấc lạnh buốt. Ông hiệu trưởng nghe báo có người muốn gặp đang đợi ở phòng khách. Ông thực sự kinh ngạc sửng sốt khi nhận món tiền chia sẻ từ tay em bé, bởi vì trước mặt ông chính là một trong số những em bé nghèo mà ông và nhà trường đã đưa vào danh sách tặng quà giáng sinh năm đó.

Kết luận:  Ước gì mẫu gương của bà góa nghèo phản ánh tình yêu của Thiên Chúa, Đấng trao ban tất cả cho con người, giúp chúng ta mạnh tiến trên con đường xây dựng Nước Chúa giữa lòng xã hội.

 

THỨ BA TUẦN XXXIV THƯỜNG NIÊN

Lc 21,5-11

Diễn Từ Chung Luận

 

  1. Bối cảnh

Đoạn Tin Mừng mở đầu một đơn vị văn chương được gọi là “diễn từ chung luận” (Lc 21,5-36). Trong đó, Chúa Giêsu bàn đến những vấn đề “chung kết” của lịch sử là:

-   Sự sụp đổ của thành Giêrusalem

-   Ngày Tận Thế

-   Và ngày Đức Kitô quang lâm

Diễn từ này khó hiểu, một phần vì được viết theo văn thể Khải Huyền, phần khác vì 3 biến cố trên được nhắc đến xen lẫn nhau khiến người ta đọc không biết rõ những câu nào nói đến biến cố nào.

  1. Hôm nay, chúng ta bắt đầu đọc diễn từ cuối cùng của Đức Giêsu, các nhà chú giải Kinh Thánh gọi đó là “diễn từ cánh chung”. Trong đó, Chúa Giêsu dùng lối văn Khải Huyền để nói về vấn đề chung cục của lịch sử, với 3 biến cố xen lẫn nhau.

- Trước hết Chúa Giêsu tiên báo thành thánh Giêrusalem sẽ bị tàn phá (c.5-6); Từ đó thính giả liên tưởng tới ngày tận thế nên hỏi Chúa Giêsu khi nào thì tận thế và có dấu hiệu nào báo trước không? (c.7). Nhưng Chúa Giêsu không muốn cho biết những dấu chỉ rõ ràng về ngày tận thế. Bởi đó, trước tiên Ngài khuyên người ta chớ tin vào những dấu chỉ mà người này người nọ đưa ra cho rằng sắp tận thế.

Lời Chúa hôm nay trong tuần lễ cuối cùng của năm phụng vụ nhắc nhở chúng ta suy nghĩ về những vấn đề cuối cùng của đời người: chết, phán xét, số phận đời đời trong ngày Đức Kitô quang lâm.

Mọi công trình con người xây dựng, dù cho có kiên cố và quí giá đến đâu đi nữa, kể cả đền thờ Giêrusalem tất cả sẽ có ngày sụp đổ tan tành. Thật vậy, đối với người Do Thái đền thờ Giêrusalem là biểu tượng cho niềm vui và hãnh diện, một công trình mất đến 40 năm mới hoàn tất. Đền thờ Giêrusalem còn là nơi Thiên Chúa ngự và là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc, là nơi hàng năm muôn dân tuôn về đó để mừng lễ. Đền thờ được xây dựng bằng đá quý, sừng sững trên ngọn đồi này, vẫn được xem là nơi nương tựa vững chắc có thể đương đầu với thời gian. Thế mà Chúa Giêsu lại tuyên bố sẽ có ngày nó bị tàn phá, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào.

Về thời điểm các sự việc đó xảy ra, dưới ngòi bút của Thánh Luca, câu trả lời của Chúa Giêsu không chỉ riêng cho Giêrusalem mà còn bao gồm cả chiều kích lịch sử cứu độ. Cũng như đền thờ Giêrusalem, thế giới này dù có vững vàng đến đâu, thì một ngày nào đó cũng sẽ tàn lụi. Trong khoảng thời gian trước ngày Chúa trở lại sẽ có nhiều tai ương khốn khó. Hình ảnh các biến cố thiên nhiên như động đất, hạn hán, mất mùa, ôn dịch. Rồi những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ trên trời, chiến tranh loạn lạc khắp nơi. Đó là những yếu tố trong lối hành văn của các tiên tri sử dụng để báo trước về ngày chung thẩm của Thiên Chúa.

III. Tuy nhiên, các biến cố đó không phải chỉ là những hình ảnh, mà là sự thật, chúng có tác dụng như một nhắc nhở con người, về cuộc đời không bền vững ở thế giới này: “Trăm năm bia đá cũng mòn”, và Sách Giảng Viên nói “Phù hoa nối tiếp phù hoa, trần gian tất cả chỉ là phù hoa”. Và hoa nào không phai tàn? Trăng nào không khuyết? Ngày nào mà không có đêm? Yến tiệc nào mà không có lúc tàn? Đồng thời, soi sáng cho con người biết chiều kích về ơn gọi siêu việt của mình là sống như con cái Thiên Chúa và trung thành thực hiện ơn gọi đó, trong khi chờ đợi ngày Chúa lại đến, bằng tô điểm cho đời sống của mình tinh thần yêu thương và phục vụ.

Kết luận: Xin Chúa cho chúng ta luôn biết tin tưởng vào tình thương bao la của Chúa, để chúng ta hằng gắn bó với Chúa và sống hết tình con thảo trong từng phút đời sống chúng ta với tư thế luôn luôn tỉnh thức và chờ đợi Chúa đến để cứu độ chúng ta.

  

THỨ TƯ TUẦN XXXIV THƯỜNG NIÊN

Lc 21,12-19

Cơ Hội Làm Chứng

 

  1. Bối cảnh

Trong văn mạch diễn từ chung luận, Chúa Giêsu báo trước cho môn đệ mình biết rằng có một thời kỳ Giáo Hội sẽ bị bắt bớ. Rồi Ngài dạy họ phải sống thế nào trong thời kỳ đó:

-   Câu 13: Hãy coi những khốn khó đó là dịp để ta làm chứng cho Chúa.

-   Câu 14-15: đừng sợ phải bào chữa thế nào, vì Ngài sẽ ban cho họ sự khôn ngoan mà kẻ thù không thể nào thắng được.

-   Câu 16-18: đừng sợ khi bị bắt bớ và thù ghét, vì vẫn có Chúa quan phòng trong tất cả những hoàn cảnh éo le đó.

-   Câu 19: phải kiên trì.

  1. Bài Tin Mừng hôm nay là một đoạn ngắn trong “diễn từ chung luận”. Có một câu làm chúng ta lưu ý. Trong đó Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “các con sẽ bị người ta bắt bớ, ngược đãi, nộp cho Hội đường, và điệu đến trước nhà cầm quyền vì Danh Thầy. Đó là cơ hội để các con làm chứng về Thầy”. Thật lạ lùng: bị bắt bớ, ngược đãi, tống ngục là chuyện đau khổ, nhục nhã, thất bại, thế mà Chúa Giêsu lại cho là hân hoan, là cơ hội tốt để làm chứng cho Chúa. Tại sao thế? Bởi vì đó chính là con đường mà người môn đệ phải đi: “Ai muốn theo ta, hãy bỏ mình, vác thập giá mình mà theo” (Mc 8,34); và đó cũng chính là hạnh phúc thật của người môn đệ Chúa “Phúc cho ai bị bắt bớ vì công chính” (Mt 5,10)

Trong thực tế, các môn đệ đã sống và thực hành điều đó. Phêrô và Gioan đã bị bắt và bị điệu ra trước công nghị Do Thái. Các Ngài chẳng những không buồn phiền, lo sợ, mà còn hân hoan, vững tin vào Lời Chúa. Vì nhờ đó có dịp nói về Chúa Giêsu cho người khác. Phaolô bị bắt và bị xét xử, Ngài vẫn mạnh dạn nói về Chúa Giêsu cho các bậc vua chúa, quan quyền như tổng trấn Felix, Festo và cả hoàng đế Herode Agrippa nữa.

Qua những bách hại, người tín hữu có dịp làm chứng cho Chúa Kitô. Điều này thúc đẩy chúng ta phải can đảm trong mọi hoàn cảnh, mọi biến cố của đời sống, biết khước từ những đam mê bất chính, những tham vọng không hợp ý  Chúa, những thú vui không đẹp lòng Chúa, cho dù, vì thế chúng ta phải nghèo túng, vất vả, khổ đau vì Danh Chúa Giêsu Kitô để chúng ta có thể làm chứng cho Chúa trong cuộc đời.

Kết luận:  Xin Chúa cho chúng ta được luôn mạnh mẽ trong niềm xác tín đó, và sẵn sàng làm chứng cho Chúa trong bất cứ cảnh huống nào của cuộc đời.

 

 THỨ NĂM TUẦN XXXIV THƯỜNG NIÊN

Lc 21,20-28

Giờ Cứu Rỗi Gần Đến

 

  1. Bối cảnh:

Tiếp tục diễn từ chung luận:

- Các câu 20-24: Chúa Giêsu lại nói về ngày thành Giêrusalem bị tàn phá.

- Các câu 25-28: từ đó, chuyển sang ngày tận thế, ngày quang lâm. Tất cả những thế lực mà xưa nay người ta dựa vào vì coi là vững chắc (mặt trời, mặt trăng, tinh tú, biển...) đều bị lay chuyển để nhường cho quyền lực của Con Người lên ngôi. Trước tình huống đó, “muôn dân” (tức những kẻ không có đức tin) sẽ lo sợ đến hồn siêu phách lạc, vì chỗ dựa của họ đã bị lung lay, nhưng các môn đệ Chúa thì hãy vui mừng và ngẩng đầu lên chờ đợi Chúa ngự đến.

  1. Năm 70 sau công nguyên, tướng Titus của đế quốc La Mã đem quân bình địa Giêrusalem - đền thờ Giêrusalem biểu trưng của niềm tin tôn giáo, việc tế tự bị đình chỉ. Thành thánh Giêrusalem bị thất thủ và bị đốt phá bình địa đã “không còn hòn đá nào trên hòn đá nào” như lời tiên báo của Chúa Giêsu.

Tuy nhiên, Lời Chúa không chỉ ứng nghiệm với thành thánh bị phá hủy vào năm 70, mà còn tiên báo về ngày tận cùng của thế giới. Khi Ngài đến trong vinh quang để xét xử, có các tai họa làm cho người ta lo âu, sợ hãi: “sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét, người ta sợ hãi đến hồn siêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ Con Người sẽ xuất hiện uy nghi trên đám mây mà đến... Hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì giờ cứu rỗi đã đến gần”.

III. Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta suy nghĩ về ngày sau hết  của mỗi người chúng ta. Trước khi từ giã cõi đời con người cũng thường bị vây hãm: bởi những lo âu run sợ trước cái chết, bởi những tiếc nuối cho những ngày đã qua, bởi những hành hạ của căn bệnh, bởi sức tấn công của lực lượng sự dữ. Trong những giờ phút ấy, lời Chúa Giêsu sẽ là kim chỉ nam: “Bấy giờ ai ở miền Giuđê hãy trốn lên núi; ai ở trong thành, hãy bỏ đi nơi khác; ai ở vùng quê thì chớ vào thành”. Đành rằng, bấy lâu nay thân xác đã cho con người được niềm vui, sự hãnh diện, tình yêu thương; thế nhưng giờ đây thân xác sắp bị hủy hoại, con người không còn lý do gì để cứ bám víu lấy thân xác, nhưng hãy biết thoát ly những ràng buộc của thân xác, để đi vào ơn cứu độ của Chúa.

Trước những biến cố đó, người tín hữu phải nhận ra được những điềm báo qua những cái đe dọa của sự chết như: bệnh hoạn, tai nạn, thiên tai, chiến tranh... để cảnh giác trong việc chuẩn bị cho giờ chết của mình. Nhất là biết nhìn ra được Lời Chúa mời gọi ta sám hối trở về với Ngài; với một tấm lòng phó thác và biết ơn, chúng ta “hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì chúng ta sắp được cứu chuộc”.

Kết luận: Lạy Chúa, xin thương ban Chúa Thánh Thần xuống trên chúng con, để củng cố chúng con luôn mãi, nhất là trong lúc bị thử thách. Xin thương ban ơn giúp chúng con kiên trì cho đến cùng trong đức tin vào Chúa để chờ đợi ngày quang lâm của Chúa.

 

  

THỨ SÁU TUẦN XXXIV THƯỜNG NIÊN

Lc 21,29-33

Dấu Chỉ Thời Đại

 

  1. Bối cảnh:

Sau khi giải thích cho các môn đệ về những điềm báo trước về việc đền thờ và thành Giêrusalem bị sụp đổ, và các thế lực gian tà lung lay, để loan báo về ngày cánh chung, và triều đại Thiên Chúa sắp đến, Đức Giêsu lại lấy ví dụ cụ thể ai cũng biết, là cây vả để làm nổi bật giáo huấn của Ngài về ngày cánh chung nhằm khuyên nhủ các môn đệ phải tỉnh thức và sẵn sàng đón Chúa đến.

  1. Người ta vẫn thường nói: có nguyên nhân mới phát sinh ra hậu quả. Trong thế giới vật chất này, chẳng có gì là ngẫu nhiên, có lửa thì có khói, các vật rắn chạm vào nhau sinh ra tiếng động.

Trong Tin Mừng hôm nay. Chúa Giêsu cũng nhắc đến nguyên lý đó. Ngài dạy chúng ta phải biết nhìn vào các biến cố xảy ra trong thời đại để nhận biết rằng triều đại Thiên Chúa sắp đến: “Anh em hãy xem cây vả cũng như tất cả những cây khác. Khi cây đâm chồi, anh em nhìn thì dư biết là mùa hè đã đến gần. Anh em cũng vậy, khi nhìn thấy những điều đó xảy ra, thì hãy biết là triều đại Thiên Chúa đã đến gần”.

Bên thánh địa vào tháng ba, cây vả nẩy lộc bất luận trời nóng hay lạnh, hạn hán hay mưa lụt cứ thấy cây vả đâm chồi nảy lộc là biết gần đến mùa hè. Cũng một cách như cây vả là điềm báo mùa hè, thì khi thấy thiên tai xảy ra cũng là điềm báo thành Giêrusalem bị sụp đổ, và do đó, cũng là những điềm báo Nước Chúa đã đến gần.

Theo cha Lausade, Thiên Chúa nói với chúng ta bằng hai cách: hoặc bằng Lời Chúa trong Kinh Thánh, hoặc qua các biến cố xảy đến trong đời sống thường ngày. Điều quan trọng là chúng ta phải quan tâm để nhận ra lời nhắn nhủ của Chúa. Tuy nhiên, chúng ta thường dễ nhận ra Kinh Thánh là Lời Chúa, là giáo huấn của Chúa, mà ít nhận ra các dấu chỉ thời đại cũng là Lời Chúa, là thánh ý Chúa. Nói khác đi, chúng ta ít nghe được tiếng Chúa nói với chúng ta qua các tạo vật, qua niềm vui, nỗi buồn, qua cả những lỗi lầm của chúng ta.

III. Là người tín hữu, chúng ta cần phải có sự nhạy bén trong đời sống thiêng liêng: có khả năng nhận ra những tín hiệu loan báo tin vui, như nhìn ra cây cối đơm bông nở hoa thì sẽ kết trái; cây vả đâm chồi nảy lộc báo hiệu mùa hè đã đến. Cũng vậy, người tín hữu cũng nhận biết sự kiện Chúa Giêsu đến trần gian khởi đầu cho việc cứu chuộc, và đó là mùa xuân Nước Trời; báo hiệu cho việc sẽ chấm dứt trong vinh quang, tức là ngày cánh chung, đó là mùa thu hoặc mùa gặt hái. Tin thật như vậy, chúng ta phải sống tử tế “đứng thẳng” và “ngẩng đầu lên” vì giờ cứu rỗi sắp đến.

Do đó, để nhận ra tiếng Chúa qua các biến cố, chúng ta cần phải có thái độ lắng nghe và yêu mến. Có những người không bao giờ đặt vấn đề: tại sao tôi sống? Sống để làm gì? Chết rồi đi đâu? Người Kitô hữu chúng ta biết rõ ý nghĩa của cuộc đời, nhưng cũng cần chăm chú lắng nghe để nhận ra ý Chúa trong mọi biến cố cuộc sống, vì đó là tiếng gọi của tình yêu mà chỉ những ai yêu mến Chúa mới nhận ra.

Kết luận: Xin cho chúng ta nhận ra Chúa luôn hiện diện trong cuộc đời chúng ta, để chúng ta luôn hân hoan tiến bước và chu toàn thánh ý Chúa mỗi ngày cho đến ngày chúng con được hưởng nhan Chúa trên Nước Trời.

 

  

THỨ BẢY TUẦN XXXIV THƯỜNG NIÊN

Lc 21,34-36

Tỉnh Thức Và Cầu Nguyện

 

  1. Bối cảnh:

Đoạn Tin Mừng này là một phần của diễn từ chung luận, trong đó Chúa Giêsu nói tới những việc sẽ xảy ra vào những ngày cuối cùng. Chúa không dừng lâu ở việc mô tả các dấu chỉ, nhưng chỉ chú ý đến thái độ mà môn đệ Đức Giêsu phải có.

-   Thái độ thứ nhất là chú ý tới việc quan trọng là đón Chúa đến: không nên để mình ảnh hưởng của những xáo trộn bên ngoài để rồi chè chén say sưa hoặc chỉ lo lắng  sự đời... Nhưng bất cứ lúc nào cũng phải nghĩ đến việc Chúa đến, dù cho có thình lình, đột ngột, họ cũng không ngỡ ngàng, vì họ luôn tỉnh thức.

-   Thái độ thứ hai là kiên trì trong việc cầu nguyện liên lỉ: cầu nguyện để xin Ngài mau đến, cầu nguyện để xin ơn đứng vững trước những xáo trộn bên ngoài.

  1. Kết thúc diễn từ về ngày tận thế, Chúa Giêsu đã đưa ra hai thái độ sống cụ thể trong khi chờ đợi ngày Chúa đến. Trước hết là thái độ sống thanh thoát: “Anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề, đắm say tửu sắc, đa mang sự đời, kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em, vì ngày ấy sẽ ập tới mọi dân cư trên khắp mặt đất”:

- Chớ chè chén say sưa: tức là những đam mê xác thịt.

- Đừng lo lắng việc đời: tức là những ham mê công việc trần thế như ham mê của cải, danh vọng, địa vị, và những thú vui trần thế chi phối hay bỏ bê việc thuộc về Nước Trời.

Nói khác đi, Chúa muốn chúng ta sống sứ điệp và giá trị Tin Mừng, không để mình bị mê hoặc chạy theo các chủ trương duy vật, hưởng thụ, quá lo thu tích của cải như một bảo đảm an toàn cho cuộc sống mà lãng quên những nhu cầu tâm linh và các giá trị siêu việt của cuộc sống.

Thái độ thứ hai là phải có lối sống tích cực, đó là phải tỉnh thức và cầu nguyện: “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt con người”. Phải tỉnh thức, có nghĩa là phải ở trong tư thế tỉnh táo, cẩn thận để có thể đối phó kịp thời với mọi cảnh ngộ và sẵn sàng đón tiếp Chúa đến bất cứ lúc nào. Phải cầu nguyện, vì sức con người yếu đuối, và tự mình không làm gì được, cần cậy trông vào ơn Chúa để đủ sức chống trả những cám dỗ, những thử thách: “Xin chớ để chúng con sa trước cám dỗ và cứu chúng con cho khỏi sự dữ”. Nhờ cầu nguyện, chúng ta sẽ có thái độ tỉnh thức trong đời sống thường ngày, sẽ nhạy bén với tiếng gọi của Chúa qua những biến cố cuộc sống để luôn tìm đẹp lòng Chúa.

Kết luận: Xin Chúa cho chúng ta biết sống từng giây từng phút hiện tại, sao cho luôn được Chúa chúc lành, và được tình thương Chúa che chở, để ngày Chúa đến sẽ là ngày hạnh phúc cho chúng ta.

Lm. Giuse Phạm Thanh Minh

Gp. Mỹ Tho

Tin liên quan

Video

Hỗ trợ trực tuyến

Thống kê